Facebook từng bước tuyên chiến YouTube

Facebook đang từng bước đe dọa vị trí thống lĩnh trong thị trường video trực tuyến của YouTube. Trang TheInformation đưa tin cho biết gã khổng lồ mạng xã hội đang đàm phán với ít nhất một hãng thu âm nổi tiếng để giành quyền sử dụng video của hãng trên trang.

Trên thực tế, các video đăng lên Facebook có chứa một phần nhạc bản quyền thường bị báo xấu và tự động xóa. Nguyên nhân là do Facebook chưa mua quyền sử dụng với những sản phẩm này.

Ngược lại, video đăng trên YouTube có thể chứa một số phân đoạn trong các bài hát có bản quyền, vì Google đã ký thỏa thuận sử dụng với các hãng thu âm và chia sẻ doanh thu cho họ.

Để có được đặc ân này, YouTube từng trải qua nhiều sóng gió. Có thời điểm trang chia sẻ video bị kiện 1 tỷ USD vì đăng các nội dung có bản quyền chưa được phép lên trang, dẫn đến vụ tranh tụng mệt mỏi kéo dài 7 năm trời, vừa được dàn xếp năm ngoái.

Facebook Vs Youtube

Để tránh các vụ kiện tương tự, Facebook hiện đang phải giám sát các video tải lên. Tuy nhiên, điều này vô hình chung làm hạn chế các thể loại video, khiến số lượng giảm đáng kể so với YouTube.

Tuy nhiên nếu nhận được cái bắt tay từ phía hãng thu âm, Facebook sẽ lật ngược điểm yếu này.

Làm tiền

Mặc dù vậy, Facebook sẽ còn nhiều việc phải làm. Mạng xã hội tự hào có tới 4 tỷ lượt xem video hàng ngày, tăng gấp 4 lần so với tháng 9/2014. Nhưng với những nhà sản xuất video, bao nhiêu người chọn Facebook làm nền tảng chính thay vì YouTube?

Có lẽ không nhiều, vì Facebook thiếu đi một lựa chọn sống còn so với YouTube: Khả năng làm tiền.

YouTube trả về một phần doanh thu quảng cáo cho người dùng, điều Facebook chưa làm được.

Đối với nhiều “YouTuber”, làm video và đăng lên trang là công việc toàn thời gian. Do đó, mặc dù Facebook có thể khiến các video lan rộng hơn, mạng xã hội chưa thể mang về lợi nhuận cho họ.

Giải pháp ở đây là Facebook cung cấp bổ sung hạng mục video trả tiền và phục vụ quảng cáo. Nhưng lựa chọn này lại dẫn đến một vấn nạn khác.

Video “lậu”

Chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng số lượng video lậu trên Facebook là không hề nhỏ. Nhiều người dùng sẵn sàng đăng tải video của người khác để “câu view” nhằm tăng độ nổi tiếng.

George Strompolos – CEO của công ty mạng lưới YouTube nổi tiếng Fullscreen – cho rằng Facebook có tiềm năng tiếm ngôi YouTube, với điều kiện họ giải quyết được các vấn đề trên.

Trong một chia sẻ gần đây, ông cho biết video trên mạng lưới của ông thường xuyên bị người dùng Facebook “thó” và đăng lên trang cá nhân mà không có ai bị kiện.

Giờ, nếu Facebook tung ra lựa chọn video “làm tiền” khi chưa kiểm soát được video lậu, nó sẽ phải trả một núi tiền cho những người chuyên đánh cắp nội dung từ những nguồn khác. Xem ra con đường truất ngôi tượng đài YouTube của Facebook còn nhiều gian nan.

Theo BizLive

6 cách đánh giá lại chiến lược truyền thông hiệu quả

Sáu cách tuy khó thực hiện hơn nhưng hiệu quả cao hơn nhằm đánh giá lại chiến lược truyền thông của bạn.

Review Armaggeddon – Rất nhiều media agency gần đây đã truyền tai nhau thuật ngữ mới này.

Trong danh sách các lý thuyết là sự khó khăn về tính minh bạch, việc cắt giảm chi phí marketing, về vấn đề số lượng người xem, về việc chuyển hướng sang hệ thống mua theo chương trình (programmatic buying), Martin Sorrell là người nắm được những vấn đề này một cách thấu đáo. Tại Cannes vào tháng trước, người đứng đầu công ty quảng cáo lớn nhất thế giới, WPP, đã phát biểu rằng: hơn bao giờ hết, marketers đang bị bối rối. Dù tôi đã không đồng ý với những quan điểm này trong khứ, quan sát của ông trong trường hợp này lại khá chính xác. Cảnh quan phương tiện truyền thông đang bị phân mảnh một cách chóng mặt khiến cho bất kì marketers nào cũng cảm thấy thiếu chắc chắn về chiến lược phát triển của mình.

Tuy nhiên, chúng ta không cần thêm một diễn thuyết gia giải thích một cách lý thuyết những ý nghĩa nguyên nhân đằng sau “reviewmaggedon.” Thay vào đó, tôi tha thiết kêu gọi các nhãn hàng hãy dừng lại. Từ góc nhìn của bản thân, hầu như không có cách nào đảm bảo chắc chắn sự chính xác của các bảng đánh giá (reviews).

Các xu hướng trong quảng cáo thường bị nghiêm trọng hoá; các marketer nhìn thấy đối thủ của mình thực hiện một vài hoạt động, và họ nghĩ rằng có một câu trả lời kì diệu ở ngoài kia. Tôi tin rằng thay vì chọn cách làm việc vất vả hơn rất nhiều để điều phối lại với các đối tác về truyền thông và các nhà tư vấn khác, các nhãn hàng đang vung tay mình trong không khí – bỏ đi những thành quả lao động, và hy vọng rằng sẽ có thể bắt đầu lại lần nữa.

Dành rất nhiều thời gian đánh giá những quyết định về phương tiện truyền thông cho những thương hiệu như Verizon, J.P. Morgan Chase và Crayola trong những năm đầu sự nghiệp của mình tại những agency lớn,  giờ đây tôi hiểu rằng đơn giản là chưa có đủ động lực để kiểm tra các phương án tiếp cận. Các bản đánh giá vừa tốn kém, vừa gây ra gián đoạn. Đặc biệt khi ở trong một môi trường truyền thông phức tạp như vậy, việc từ bỏ toàn bộ chiến lược truyền thông là không hợp lý; thay vào đó, bạn nên thiết lập một hệ thống thử nghiệm beta liên tục để nhìn ra được điều gì tạo ra được sự cộng hưởng với người tiêu dùng.

thiết kế logo thương hiệu, thiết kế logo công ty, thiet ke logo gia re

Mặc dù chúng ta đã nói khá nhiều về việc chuyển sang một quá trình mang tính  “linh hoạt” hơn và “lặp đi lặp lại” hơn trong thế giới quảng cáo, tập trung sâu hơn vào sản phẩm lượng sáng tạo. Trong thực thế, việc biết cách thử nghiệm và  kiểm tra với truyền thông trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Hãy cân nhắc sự thay đổi của thị trường, nội dung truyền thông được yêu thích nhất hiện nay là các kênh không đăng chiếu quảng cáo, ví dụ như các show trên kênh HBO và Netflix. Tại thời điểm mà chúng ta biết rằng người tiêu dùng đang rất sẵn sàng chi trả để thoát khỏi quảng cáo, điều quan trọng là các nhãn hàng phải dành thời gian để đánh giá lại toàn bộ chiến lược truyền thông của mình, chứ không chỉ đánh giá các đối tác truyền thông bên ngoài. Dưới đây là sáu bước các nhãn hàng có thể áp dụng:

1. Tìm được một sự đồng thuận về định nghĩa chiến lược truyền thông hiện nay.

Hầu hết mọi người đều có những định nghĩa khác nhau, điều đó gây nên những mâu thuẫn trong việc định hướng và cuối cùng dẫn đến sự thất vọng và bất mãn. Phải chăng chiến lược của bạn tập trung vào việc đặt quảng cáo ở các kênh truyền thông? Hay là nó xoay quanh vấn đề kết nối thương hiệu?

2. Quyết định ai là người sẽ đưa ra quyết định

Quyết định những người chủ chốt sẽ đưa ra quyết định hình thành định hướng cho chiến lược truyền thông.

3. Tập trung nguồn lực

Thống nhất việc phân bổ đội ngũ, đánh giá và khen thưởng để cho ra hiệu quả công việc cao nhất cho bất kì chiến lược truyền thông thay vì nhận lại những hiệu ứng ngược.

4. Đừng nghĩ về “nơi truyền tải thông điệp truyền thông”

Thay vào đó, hãy nghĩ đến việc bạn có thể làm gì để giúp thương hiệu của mình đạt được sự hấp dẫn, lòng trung thành và sự yêu quý. Bắt đầu với những thứ mà khách hàng mục tiêu của bạn quan tâm, sau đó tìm ra cách để đưa chúng cho họ. Nói cách khách, nếu khách hàng mục tiêu của bạn thích âm nhạc, đừng đặt quảng cáo của bạn trong môi trường trải nghiệm nghe nhạc,; hãy tìm một cách nào đó để đưa âm nhạc cho họ, và họ sẽ trở nên cảm kích bạn hơn. Có lẽ bạn nên nghĩa về việc “Tôi có thể mang lại điều gì cho người khác?” thay vì “Tôi nên truyền tải thông điệp của nhãn hàng ở đâu?”

5. Có lẽ bạn nên cân nhắc liệu mình đã dành quá nhiều không gian cho thông điệp.

Đây không phải vấn đề về việc cố gắng có được nhiều kênh truyền thông hơn với chi phí rẻ hơn, hoặc lấy được càng nhiều thông điệp (quảng cáo) tốt từ các agency. Điều quan trọng ở đây chính là việc biết được rằng khách hàng mục tiêu của bạn quan tâm đến điều gì, và đem những điều họ quan tâm đó tới theo những cách mà thông điệp truyền thông của thương hiệu có thể gắn kết.

6. Hãy tin tưởng vào các đối tác của bạn, đừng sa thải họ.

Việc cảnh quan phương tiện truyền thông đang thay đổi không nên là gánh nặng của riêng các media agency, các thương hiệu không cần  lo lắng và chỉ cần đánh giá hiệu quả của đối tác. Bức tranh ấy nên được cùng nhau thấu hiểu như những đối tác. Thực tế là, không ai có câu trả lời đúng cả. Cách duy nhất để làm đúng là làm việc cùng nhau như những đối tác.

Các nhãn hàng nên lùi một bước để tự đặt những câu hỏi sâu sắc hơn về chiến lược truyền thông của mình. Sẽ dễ dàng hơn rất nhiều khi cố gắng khiến cho mọi người đồng ý thực hiện một bảng media review hơn là đi sâu vào cách mà bạn và công ty của bạn xem xét, lựa chọn và đánh giá các kênh truyền thông hiệu quả hiện tại và trong tương lai.

Có rất nhiều những kênh truyền thông để bạn chọn lựa, và danh sách này lại dài hơn mỗi ngày. Điều này đồng nghĩa với việc không tồn tại một con đường tắt giúp mang thương hiệu của bạn tới mọi người. Bạn cần phải bình tĩnh và thử nghiệm. Sẽ có những lúc ta đánh trúng đích, nhưng cũng không thể tránh khỏi những cú đánh trượt. Nhưng chỉ cần bạn chấp nhận một sự thật rằng không phải bất kì nỗ lực nào của bạn cũng tác động một cách tích cực lên chỉ số ROI của bạn, thì bạn và các agency sẽ đạt được thành công trong hiện tại, và lên kế hoạch chắc chắn cho tương lai.

Theo Advertising Age

Làm thế nào để định giá trong ngành Thời trang một cách khoa học?

Định giá là một trong những công đoạn khó khăn và thử thách nhất của các nhà bán lẻ thời trang, chủ yếu là do ngành này có chỉ số SKU (stockkeeping unit) với mức độ phức tạp cao, có rất ít sự tương đồng giữa các sản phẩm, và tần suất ra mắt các bộ sưu tập thời trang diễn ra khá thường xuyên.

Stock Keeping Unit, có nghĩa là đơn vị phân loại hàng hóa tồn kho bằng cách phân loại hàng hóa giống nhau về hình dạng, chức năng. Hay hiểu nghĩa phổ thông là MÃ HÀNG HÓA

Trước đây, việc định giá vốn dĩ được xem là thiên về nghệ thuật nhiều hơn là khoa học. Tuy nhiên, khả năng ứng dụng những phương pháp tính toán số liệu cho những sản phẩm bán theo mùa như quần shorts, hoặc sản phẩm thời trang đắt tiền như túi xách cao cấp, sẽ tạo nên sự cải thiện bền vững trong doanh thu và lợi nhuận bán hàng.

Fashion-And-Modern-Youth

Mặc dù các giải pháp công nghệ hỗ trợ việc định giá đã tồn tại hơn mười năm nay, nhưng hầu hết các nhà bán hàng đều hoài nghi tính hiệu quả của nó. Thay vào đó, họ lại có xu hướng dựa vào trực giác để xác định giá trị mà người tiêu dùng sẵn sàng trả, bảng giá của đối thủ cạnh tranh, và số dư đảm phí (margin contribution). Sự phụ thuộc vào cách định giá chủ quan này rất thịnh hành trong thị trường, kể cả trong kỉ nguyên big data và minh bạch giá trực tuyến.

Chúng tôi đề xuất một mô hình cho phép các thương gia nâng cao các đánh giá kinh doanh của mình, và gắn liền trực giác với khoa học. Mô hình này được gọi là “Mô hình chuẩn hoá”, và nó phản ánh những cân nhắc chọn lựa diễn ra trong tâm trí người bán hàng khi họ định giá một sản phẩm.

Mô hình này sử dụng số liệu nội bộ và bên ngoài trong đó kết hợp một loạt các yếu tố thích hợp. Nó áp dụng hệ thống phân tích thống kê nghiêm ngặt để chọn lọc các yếu tố này và điều chỉnh số liệu để phù hợp với chiến lược kinh doanh của từng cửa hàng bán lẻ.

Hãy xem xét những yếu tố mà một nhà bán lẻ phải nghĩ đến khi quyết định định giá một sản phẩm thời trang, chẳng hạn như một chiếc váy mùa hè. Tình hình kinh tế nội bộ sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu lợi nhuận sản phẩm của nhà bán lẻ, dẫn đến việc định giá diễn ra theo cách “nếu chúng ta muốn có được 30% lợi nhuận trên sản phẩm này, chiếc váy chí ít phải được bán với giá 48 Đô la Mỹ.”  Tính cả những tác động cạnh tranh vào có thể đẩy giá bán lên một mức cao hơn, 55 Đô la Mỹ chẳng hạn, nếu nhà bán lẻ muốn giá bán của chiếc váy tương tự với giá bán của một mẫu trong bộ sưu tập của đối thủ. Ngược lại, những cân nhắc định vị về giá lại có thể hạ giá bán xuống một mức thấp hơn, khoảng trong 36 Đô la Mỹ, nếu chiếc váy đó không thuộc vào “tầng cao hơn” ở cửa hàng. Thậm chí ngay cả những nhà bán lẻ khôn khéo lão luyện nhất cũng phải đối mặt với thách thức làm thế nào để quyết định các yếu tố để cân nhắc và biết được mức dộ quan trọng của từng yếu tố trong việc định giá bán cho chiếc váy.

Mặc dù rất nhiều chỉ số trong mô hình của chúng tôi được vận dụng một cách rộng rãi trên các cửa hàng bán lẻ khác, chúng lại bao gồm hai chỉ số gây ra nhiều vấn đề khi được sử dụng trong định giá sản phẩm thời trang. Chỉ số đầu tiên, độ đàn hồi, được áp dụng tương đối phổ biến trong lĩnh vực tiêu dùng. Chỉ số này thường phụ thuộc vào các điểm dữ liệu ổn định nhưng không thường được sử dụng trong ngành thời trang do tính chất của ngành kinh doanh. Bằng việc áp dụng cách tiếp cận kinh tế lượng, nhà bán lẻ có thể ước lượng ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả lên số lượng sản phẩm bán ra một cách tự tin. Việc đo đạc được mức độ đàn hồi thích hợp là cực kì quan trọng, bởi đánh giá này sau đó được sử dụng để hướng dẫn việc điều chỉnh giá tổng thể, để quyết định số lượng bán ra mới, và để xác định doanh thu thuần cùng tác động lợi nhuận.

Chỉ số thứ hai là giá trị nhận thức của các thuộc tính sản phẩm cá nhân ví dụ như màu sắc, yêu cầu giặt, và các chi tiết thêm thắt trên trang phục. Hầu hết các thương gia định giá bán cao hơn đối với những sản phẩm có chi tiết cầu kì so với những sản phẩm không có những tính năng bổ sung, dù cho họ thường không xác định được những chi tiết cầu kì đó đòi hỏi mức giá chính xác là bao nhiêu. Bằng việc chia nhỏ tất cả các thuộc tính và  nắm được giá trị nhận thức của mỗi món hàng, giá cả hoàn toàn có thể được điều chỉnh một cách thích hợp.

Mặc dù mỗi một chỉ số có thể được sử dụng một cách độc lập để định giá một mẫu phong cách, chúng tôi vẫn tin rằng các nhà bán lẻ nên sử dụng kết hợp các chỉ số thích hợp, quy định mức độ quan trọng của mỗi chỉ số, rồi từ đó đưa ra giá bán đề nghị. Tuỳ thuộc vào mục tiêu của mỗi nhà bán lẻ, các giá bán đề nghị này có thể giúp tối đa hoá lợi nhuận sản phẩm hoặc thị phần.

Để thực hiện phương pháp này, hầu hết các nhà bán lẻ cần phải có khả năng phân tích tốt hơn, và cần suy nghĩ lại cách mà họ thu thập và hệ thống số liệu thích hợp cho mỗi chỉ số. Quyết định mức độ quan trọng của mỗi chỉ số là một quá trình lặp đi lặp lại mà ở đó các nhà bán lẻ phải có hiểu biết sâu sắc về doanh nghiệp và mục tiêu chiến lược về giá của mình. Trong ngành hàng dệt may cơ bản, ví dụ, một số thương gia sẽ chọn ưu tiên một số chỉ số liên quan đến định vị vị trí cạnh tranh. Hoặc nếu chú trọng hơn vào phong cách và xu hướng, họ có thể đặt nặng các chỉ số phản ánh yêu cầu của người tiêu dùng. Bằng việc điều chỉnh phương pháp của mình theo cách này, họ sẽ đạt được mức ảnh hưởng lớn hơn trong nỗ lực tối ưu hoá chiến lược định giá của mình.

Các nhà bán lẻ cũng có thể áp dụng phương pháp này để hiểu được con số tối ưu của giá cả trong một danh mục sản phẩm. Hầu hết các nhà bán lẻ sử dụng một vài điểm giá, nằm ngoài thói quen và sự quen thuộc, và thường tồn tại một mối tương quan giữa con số nhỏ này và mức giá thấp hơn trung bình. Những nhà bán lẻ khác sử dụng quá nhiều điểm giá, tạo ra sự bối rối và nhầm lẫn cho người tiêu dùng về sự khác biệt trong giá trị sản phẩm. Bằng việc tối ưu hoá những con số của điểm giá mà các nhà bán lẻ sử dụng và đảm bảo rằng lựa chọn hàng hoá của họ gắn liền với mức giá mới, thì các nhà bán lẻ mới có thể nắm được cơ hội thu về lợi nhuận khổng lồ.

Mặc dù phương pháp này dựa trên “khoa học” của các công cụ phân tích bên ngoài, gốc rễ của nó vẫn là nghệ thuật kinh doanh và kiến thức của các thương gia. Bởi vì nó dựa trên các quyết định mang tính chiến lược về mức độ quan trọng của các chỉ số, nên mô hình linh hoạt này có thể giúp người dùng cập nhật xu thế và đuổi kịp với những thay đổi chiến lược trong kinh doanh. Miễn là ngành thời trang còn thay đổi theo mùa, thì sẽ luôn luôn có một yếu tố không thể đoán trước được trong định gía mặt hàng thời trang. Các nhà bán lẻ có thể thu được rất nhiều lợi nhuận từ việc khai thác kiến thức giàu có, và áp dụng những đổi mới trong chiến lược định giá mặt hàng thời trang của mình.

Theo mckinseyonmarketingandsales.com

Hướng dẫn xây dựng kế hoạch marketing chi tiết

Kế hoạch marketing phải rõ ràng, xúc tích và là tài liệu đã được cân nhắc kỹ lưỡng giúp hướng dẫn bạn thực hiện chương trình marketing. Nó nên tập trung vào mục tiêu marketing của bạn và bạn sẽ làm thế nào để đạt được các mục tiêu đó. Dù công ty bạn cung cấp sản phẩm hay dịch vụ, kế hoạch marketing vẫn rất cần thiết và quyết định sự thành công của bạn.

Xây dựng kế hoạch marketing

6 yếu tố cơ bản để hình thành một kế hoạch marketing tốt được đưa ra dưới đây. Bạn chỉ cần viết một hay hai câu cho mỗi phần…. hay bạn có thể tách chúng ra thành những điểm nhỏ riêng biệt.

1. Mục đích xây dựng kế hoạch marketing

Mục đích chung của bất kỳ một kế hoạch marketing nào là nhằm làm tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng điều này quan trọng như thế nào với công ty bạn? Hãy làm rõ điều đó ở đây. Nếu bạn là nhà thiết kế quần áo cho trẻ em, mục đích của bạn phải là “phải bán được nhiều váy áo cho trẻ con nhất ở mức chi phí đơn vị thấp nhất”. Nếu bạn là một chuyên gia vi tính độc lập chuyên giúp đỡ các công ty sử dụng Internet, mục đích của bạn phải là “làm thế nào để có thể bỏ phí thời gian phục vụ với nhiều khách hàng với chi phí thấp nhất có thể”.

Có một số điều bạn phải suy tính đến khi thảo ra phần này:

  • Mục đích của kế hoạch marketing của bạn phải rõ ràng. Bằng cách đưa ra và soạn thảo thành văn bản, bạn có thể tập trung vào đúng dự định của mình.
  • Nhiều doanh nghiệp cho rằng kế hoạch marketing của họ đưa ra công chúng, được in ấn, hay viết thành quảng cáo, vv. Đó không phải là mục đích mà là sách lược. Kết quả cuối cùng của chúng đều là làm tăng lợi nhuận của công ty.
  • Nếu bạn gặp khúc mắc trong việc tìm ra câu trả lời cho câu hỏi “mục đích của kế hoạch marketing của tôi là gì?”, bạn có thể trả lời câu hỏi ” Tại sao tôi phải làm marketing?”
    Câu trả lời cho hai câu hỏi này là giống nhau.

2. Khách hàng mục tiêu

Để có thể tiếp cận được với khách hàng mục tiêu, bạn phải biết được họ là ai. Tìm ra đặc điểm nổi bật chung. Họ là các công ty hay cá nhân? Họ tập trung vào một nhóm tuổi, một khu vực hay có cùng khả năng thu nhập? Họ thường mua loại sản phẩm hay dịch vụ của bạn như thế nào? Họ có thường xuyên mua sản phẩm của bạn không? Họ tìm kiếm đặc điểm gì trong sản phẩm?

Bạn không nên sử dụng thuật ngữ chung – thay vì dùng câu “những người muốn mua quần áo cho trẻ nhỏ” bằng câu “ông bà nội ngoại và những người muốn tặng quà đang tìm bộ quần áo đặc biệt cho trẻ sơ sinh”.

Cẩn thận không nên ôm đồm nhiều thứ cùng một lúc. Không phải tất cả mọi người đều là khách hàng mục tiêu của bạn. Không phục vụ tất cả mọi khách hàng – hãy phân đoạn thị trường. Nếu bạn bán dầu sưởi nhà trong một khu vực cụ thể nào đó, bạn có thể nhằm mục tiêu marketing vào tất cả các hộ gia đình trong khu vực đó. Nhưng liệu như thế bạn đã sử dụng có hiệu quả tiền bạc và thời gian của mình chưa? Có lẽ là chưa. Bạn nên thu hẹp điểm tập trung của mình lại. Khách hàng mục tiêu của bạn là những người đang sử dụng dầu để sưởi nhà hay là những người đang sử dung khí ga để sưởi nhưng đang muốn chuyển sang dùng dầu? Hay bạn đang tập trung vào những người vừa mua nhà và chưa quyết định sẽ mua dầu sưởi nhà ở đau? Bạn bán hàng cho người dân địa phương hay cho các doanh nghiệp ở địa phương?

Có một số điểm khác bạn cũng cần xem xét:

  • Phải biết chắc chắn được rằng thị trường mục tiêu của bạn đủ lớn để đáp ứng được các mục tiêu bán hàng của bạn.
  • Không nên đoán khách hàng mục tiêu của bạn là ai. Khi có thể tính toán bằng con số thực thông qua khảo sát. Tư vấn một hiệp hội thương mại; Đến thư viện nghiên cứu và tra cứu số liệu thị trường; sử dụng thông tin về nhân khẩu thông qua cuộc tổng điều tra, v.v.
  • Khách hàng của sản phẩm hay dịch vụ của bạn không nhất thiết phải là người sử dụng.
  • Nếu bạn bán hàng cho các doanh nghiệp, bạn phải nhớ rằng sản phẩm hay dịch vụ của bạn được bán đến tay một cá nhân chứ không phải là một công ty.

3. Lợi ích của sản phẩm hay dịch vụ của bạn

Bạn không tiếp thị sản phẩm, không tiếp thị dịch vụ; mà bạn tiếp thị những điểm mạnh của sản phẩm của mình. Hãy mô tả chúng ở đây. Hãy xem xét đến các đặc điểm nổi bật của sản phẩm hay dịch vụ của bạn đối với các đối thủ cạnh tranh. Nó còn được biết đến là Điểm độc đáo của sản phẩm của bạn hay USP. Nó có thể là mẫu mã của sản phẩm, kiến thức của bạn về thị trường, kỹ thuật mới, dịch vụ đặc biệt, tài năng khác thường hay một thứ gì đó. Ví dụ USP của vô tuyến Sony là hình ảnh chất lượng cao của đèn hình Trinitron. USP của Burger King đó là bánh mỳ kẹp thịt nướng qua lửa.

Hãy xem xét những điểm dưới đây khi bạn phát triển USP của mình:

  • Bạn nên xem xét những điểm yếu và điểm mạnh của mình. Khi bạn xác định được chúng, bạn có thể dùng việc tiếp thị thị trường để tối đa hoá điểm mạnh của mình và tối thiểu hoá điểm yếu.
  • Bạn cũng nên xem xét điểm yếu và điểm mạnh của các đối thủ cạnh tranh – cốt để có thể tối thiểu hoá điểm mạnh của họ và có được lợi thế cho mình từ những điểm yếu của họ.

4. Định vị sản phẩm

Định vị sản phẩm là nét đặc trưng của bạn trên thị trường; làm thế nào để thị trường và đối thủ cạnh tranh nhận biết sản phẩm hay dịch vụ của bạn. Việc định vị sản phẩm của bạn sẽ có ảnh hưởng tới bất kỳ phần nào trong kế hoạch marketing của bạn.

Định vị sản phẩm nên dựa vào lợi ích của sản phẩm bạn đưa ra, khách hàng của bạn là ai, và đối thủ cạnh tranh định vị sản phẩm của họ như thế nào. Hãy đưa ra lời tuyên bố định vị sản phẩm tập trung và cô đọng. Ví dụ, công ty Acme Movers đã đưa ra lời định vị sản phẩm như sau “Công ty ô tô đáng tin cậy nhất trong thành phố”. Hai kiến trúc sư chuyên về thiết kế bếp có thể đưa ra các cách định vị hoàn toàn khác nhau – một người có thể là “là một nhà thiết kế sáng tạo nhất cho không gian bếp hiện đại” trong khi người khác có thể lại ―“là nhà thiết kế tiết kiệm chi phí nhất cho khu bếp truyền thống”. Bạn nghĩ khu bếp của ai có thể sẽ được tìm thấy ở mô hình gia đình hiện đại và bếp của ai định hướng mục tiêu cho khách hàng có mức sống trung bình?

Một số lời khuyên khi định vị sản phẩm:

  • Khi đưa ra lời tuyên bố định vị sản phẩm, bạn nên sử dụng các từ chỉ tính cực độ như “nhất”, “tốt nhất”, “nhanh nhất”, “rẻ nhất”, “duy nhất” v.v.
  • Nếu như không có nhiều điểm khác biệt giữa sản phẩm của bạn và các đối thủ cạnh tranh, bạn hãy tìm đến các nhu cầu cụ thể hay nhu cầu tự nhiên có ý nghĩa của khách hàng mà chưa được thoả mãn.
  • Không được định vị sản phẩm của mình chống lại đối thủ cạnh tranh. Nếu bạn làm như vậy, bạn có thể mất vị trí một khi khách hàng thay đổi hướng quan tâm. Thay vào đó, bạn nên chú trọng nhiều hơn vào những lợi ích của sản phẩm hay dịch vụ của mình.
  • Phải rất cẩn thận khi bạn chỉ định vị sản phẩm dựa trên giá thành vì người ta thường coi đó là điều nghiễm nhiên.
  • Không nên định vị sản phẩm chỉ dựa trên hình ảnh. Bạn cần phải định vị sản phẩm bằng cả nội dung lời nói. Nếu không đó sẽ là một thảm hoạ.

5. Sách lược marketing

Mô tả sách lược marketing cụ thể, bạn có xu hướng sử dụng chúng để tiếp cận khách hàng mục tiêu chẳng hạn- quảng cáo, quan hệ công chúng hay xúc tiến bán hàng . Chúng là vũ khí trong chiến lược marketing của bạn. Hãy chọn lựa chúng một cách khôn ngoan. Nhưng phải đảm bảo rằng chúng phù hợp và cần thiết cho việc định vị sản phẩm của bạn và sẽ đem lại lợi ích cho sản phẩm.

Không cần thiết phải đề cập rõ trong kế hoạch marketing bạn sẽ sử dụng mỗi thứ vũ khí này như thế nào. Bạn chỉ nên đề cập ngắn ngọn mục đích và các sách lược khác nhau. Ví dụ, một chuyên gia Internet có thể viết “Các thông cáo báo chí sẽ nhấn mạnh vào chuyên môn Internet. Quảng cáo in sẽ được đăng chủ yếu ở mục rao vặt trên phần thông tin vi tính hàng tuần của báo Công nghệ và đời sống”. Lưu ý rằng kế hoạch marketing của bạn là phần chỉ dẫn cho bạn – bạn không cần phải làm quá chi tiết.

6. Ngân sách giành cho Marketing

Thảo luận ngắn ngọn xem bạn dự định giành bao nhiêu phần trăm tổng doanh thu bán hàng dự báo được để đầu tư cho marketing. Bạn có thể chia nó thành từng tháng, quý hay năm. Tốt nhất là bạn nên quyết định ngân sách giành cho marketing khi bạn làm các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Con số mà bạn chọn sẽ phụ thuộc rất lớn vào loại hình kinh doanh và mục tiêu của bạn. Nó có thể dao động từ 5% đến 50% hay nhiều hơn. Nếu bạn là một công ty tập trung nhiều vào marketing – ví dụ một công ty bán sản phẩm thông qua gửi thư trực tiếp cho khách hàng hay quảng cáo tạo phản hồi tức thời (direct response advertising) – có lẽ bạn sẽ giành nhiều ngân sách cho marketing hơn là một công ty xây dựng cơ sở khách hàng thông qua hình thức marketing theo quan hệ.

Dưới đây là một số điều bạn cần xem xét khi quyết định ngân sách:

  • Bằng cách đưa ra một con số, bạn cam kết ủng hộ kế hoạch marketing của mình. Bạn sẽ biết được nên giành bao nhiêu ngân sách cho các loại hình quảng cáo khác nhau và các sách lược khác
  • Đảm bảo bạn có thể theo dõi được hiệu quả của mỗi sách lược marketing. Bạn muốn tối đa hoá lợi nhuận từ khoản đầu tư cho marketing của mình

Khi bạn nghiên cứu qua mỗi phần, hãy ghi nhớ nhứng lời khuyên cũng như lời gợi ý:

– Hình thành kế hoạch marketing đơn giản.

Nhiều chủ doanh nghiệp nhỏ đi quá sâu vào chi tiết mà quên mất mục tiêu của mình. Bằng cách hình thành kế hoạch marketing đơn giản, bạn có thể tạo ra được một sơ đồ thực hiện công việc rõ ràng tập trung vào những điểm bạn cần phải hoàn thành.

– Soạn thảo kế hoạch marketing thành văn bản (thay vì là nghĩ đến nó và giữ nó trong đầu).

Rất cần có một văn bản để nhắc nhở bạn những điều bạn phải hoàn thành.

– Phải trực tiếp và rõ ràng.

Nếu bạn không chắc chắn, hãy nhờ một người bạn, họ hàng, đồng nghiệp hay một nhân viên đọc lại bản kế hoạch của bạn. Họ phải tức thời nắm bắt được mục tiêu của bạn.

– Đừng xây dựng một kế hoạch marketing quá linh hoạt.

Bạn có thể cố gắng xây dựng một kế hoạch có thể đối phó với mọi tình huống bất ngờ trên thị trường. Nếu thị trường của bạn thay đổi quá nhanh, bạn không thể lường trước điều đó trong bản kế hoạch của bạn. Nhưng khi xây dựng kế hoạch, bạn có thể giữ được mục đích của kế hoạch.

– Thường xuyên xem xét lại kế hoạch marketing – hàng quý, thậm chí hàng tháng.

Điều đó không có nghĩa là bạn phải xem xét lại kế hoạch hàng tháng. Nhưng bạn phải giành thời gian để đánh giá nó và đảm bảo rằng bạn thực hiện đúng.

– Cuối cùng…. không ngừng làm marketing!

Khi bạn đã xây dựng xong kế hoạch, bạn cần phải hành động. Toàn tâm toàn ý với kế hoạch marrketing của bạn. Đừng để bản thân dừng lại. Kiên trì với công việc và bạn sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp mình phát triển thịnh vượng.

Tambranding

Phần 2: Xây dựng kế hoạch marketing – Kế hoạch marketing cụ thể mẫu: Công ty xe đạp Breakway

Phần 3: Xây dựng kế hoạch marketing – Kế hoạch marketing cụ thể mẫu: Công ty phát triển máy tính CDS

Phần 4: Xây dựng kế hoạch marketing – Kế hoạch marketing cụ thể mẫu: Công ty dịch vụ đồ ăn nhanh Joe’s Redhots

17 chiến dịch thắng giải GrandPrix tại Cannes Lions 2015

Một lần nữa, bức màn nhung đã khép lại đại hội quảng cáo thường niên tại niềm Nam nước Pháp, Liên hoan sáng tạo Quốc tế Cannes Lions. Mỗi agency, marketer tham dự liên hoan suốt tuần qua đều hy vọng mang về Giải Grand Pix của Cannes Lions, một giải thưởng danh giá bậc nhất của ngành công nghiệp quảng cáo. Giải thưởng được trao cho nhiều thể loại như di động, báo chí, phim ảnh, sức khỏe… dựa theo sự sáng tạo, hiệu quả và cách thể hiện của các agency đối với thị trường.

Sau đây là những agency đã thắng giải Grand Pix năm nay tại Cannes, nói cách khác, đây là những chiến dịch hay nhất trong 12 tháng qua.

Hạng mục Creative Effectiveness

  • Chiến dịch “Volvo – Live Test Series”
  • Agency: Forsman & Bodenfors Gothenburg

Volco cùng agency của mình đã mang đến một bài kiểm tra cao độ về tính năng sản phẩm của các dòng xe Volvo và được thể hiện theo phong cách giải trí. Kết quả là một loạt các video “Live Test” được thực hiện sau khi video “Epic Split” tạo tiếng vang với diễn viên Jean-Claude Van Damme từ cú xoạc chân giữa hai xe tải đang chạy ngược. Ban giám khảo đánh giá kết quả của chiến dịch mang lại cho thương hiệu là rất lớn, cả về lượng cũng như chất.

Hạng mục Cyber

  • Chiến dịch “Under Armour – I Will What I Want”
  • Agency: Droga5 New YorkRead

Trong chiến dịch này, chúng ta thấy siêu mẫu Gisele đang đấm bao cát và những thảo luận từ mạng xã hội hiện ra trên tường đằng sau. Người xem có thể thấy được những thảo luận ấy hiển thị với thời gian thực tế. Ban giám khảo hạng mục Cyber cho rằng hạng mục năm nay xoay quanh đề tài công nghệ đã trao quyền phán xét con người mạnh đến thế nào và giúp truyền tải ý tưởng về sự ảnh hưởng hành vi.

Hạng mục Design

  • Chiến dịch “Volvo – LifePaint”
  • Agency: Grey London

Cách tốt nhất để tránh khỏi tai nạn xe cộ là tránh va chạm. Đây là ý tưởng đằng sau chiến dịch LifePaint, một dạng sơn xịt an toàn không nhìn được vào ban ngày nhưng lại tỏa sáng vào dưới ánh đèn pha vào ban đêm và người đi xe đạp có thể áp dụng dễ dàng trước khi họ chạy xe.

Hạng mục Direct

  • Chiến dịch “Volvo – Interception”
  • Agency: Grey New York

Volvo không thực hiện chương trình quảng cáo TV nào trong giai đoạn Super Bowl năm nay, thay vào đó họ kêu gọi người hâm mộ của mình trở thành một phần của chiến dịch “The Greatest Interception Ever”. Mỗi lần người xem thấy quảng cáo của hãng xe đối thủ, hãy gõ #VolvoContest lên twitter cùng với tên một người bạn yêu mến để có cơ thể sở hữu một chiếc xe. Kết quả chiến dịch cho thấy Volvo không chỉ đánh lạc hướng sự chú ý của người xem vào quảng cáo của đối thủ mà còn nâng doanh số bán hàng lên gần 70%.

Hạng mục Film

  • Chiến dịch “Geico – Unskippable Family”
  • Agency: The Martin Agency

Trong loạt quảng cáo sáng tạo của Geico cho thấy khán giả không muốn bỏ qua phần còn lại của đoạn quảng cáo sau 5 giây đầu tiên, thời điểm khá vô lý và không thực tế. “Bạn không thể bỏ qua quảng cáo của Geiko bởi vì nó đã hết”, giọng nói phát ra tại điểm thời gian 5 giây của đoạn quảng cáo, nếu khán giả tiếp tục xem, họ sẽ thấy một kết thúc buồn cười. Theo nhận xét của Ban giám khảo, mẫu quảng cáo đã “phá nát mọi quy tắc của nhà làm phim”.

Hạng mục Film Craft

  • Chiến dịch “John Lewis – Monty’s Christmas”
  • Agency: Adam&EveDDB

Đoạn quảng cáo vô cùng dễ thương này đã giành được tình cảm của nước Anh vào lễ Giáng sinh năm ngoái, rất nhiều người đã đến cửa hàng để mua chú chim cánh cụt nhồi bông Monty (cũng như sản phẩm khác) cho bộ sưu tập của họ.

Hạng mục Glass

  • Chiến dịch “P&G Whisper – Touch the Pickle”
  • Agency: BBDO India

Whisper

Chiến dịch của thương hiệu vệ sinh phụ nữ Whisper, P&G, khuyến khích phá vỡ sự cấm kỵ về thời điểm nhạy cảm của phụ nữ tại Ấn Độ. Insight của chiến dịch là phụ nữ được khuyến khích được làm từ những việc làm đơn giản như là chạm vào lọ dưa trong bếp vì quan niệm cho rằng lọ dưa sẽ bị hư nếu họ chạm vào trong khoảng thời gian nhạy cảm ấy. Không chỉ làm cho 2,9 triệu phụ nữ cam kết “chạm vào lọ dưa”, chiến dịch còn tạo ra sự thảo luận lớn tại Ấn Độ xung quanh vấn đề này.

Hạng mục Media

  • Chiến dịch “Vodafone – Red Light Application”
  • Agency: Y&R Istanbul

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, cứ ba phụ nữ thì có một người là nạn nhân của bạo hành trong nước. Vodafone đã giúp đỡ họ bằng việc cho ra đời một ứng dụng riêng biệt, họ chỉ cần lắc điện thoại của mình để thông báo bạn bè, gia đình, các cơ quan chức năng rằng họ đang lo sợ. Một trong những phần sáng tạo nhất của chiến dịch là ứng dụng này được ẩn khỏi những kẻ bạo hành, nó chỉ được kích hoạt thông qua các nội dung về chăm sóc sắc đẹp, những nhãn hiệu quần áo, hay những chuyến du lịch. Ad agency đằng sau chiến dịch công nghệ này tiết lộ ứng dụng đã được tải gần 7.000 lần và được kích họat 3.591 lần.

Hạng mục Mobile

  • Chiến dịch Google – Cardboard

Sản phẩm (không phải chiến dịch) Google Cardboard cho phép tiếp cận công nghệ thực tế ảo với chi phí thấp. Đơn giản gắn cardboard giá 14,99usd vào smartphone và download ứng dụng Google Cardboard, bạn sẽ trải nghiệm việc nhập vai thực sự như đi dạo trên đường phố Paris, tham quan một bảo tàng lịch sử, bạn sẽ thấy rằng trải nghiệm công nghệ thực tế ảo không đắt chút nào.

Hạng mục Outdoor

  • Chiến dịch “Apple Shot on iPhone 6”
  • Agency: TBWA Media Arts Lab

ShotoniPhone6

Hạng mục PR

  • Chiến dịch “Always – Like A Girl”
  • Agency: Leo Burnett

Thành công của chiến dịch này không chỉ gói trọn trong việc PR, nó còn là sự tổng hợp nỗ lực của nhiều agency khác nhau. Ở đầu video, một số người trưởng thành được yêu cầu thực hiện các động tác ném bóng, đánh nhau, hoặc chạy, nhưng phải giống như bé gái. Kết quả thu được khá “sướt mướt” và cho thấy sự liên tưởng tiêu cực của mọi người về các cô gái. Sau đó, họ yêu cầu các cô bé nhỏ tuổi hơn làm tương tự và các bé thể hiện một cách tự tin và quyết đoán. Đoạn video có hơn 58 triệu lượt xem trên YouTube và được chiếu lại trên chương trình quảng cáo của the Super Bowl với cái tên là Always.

Hạng mục Press

  • Chiến dịch “Buenos Aires Public Bike System – Never Stop Riding”
  • Agency: The Community

AiresPublic

Những mẫu quảng cáo minh họa xinh đẹp cho hệ thống xe đạp công cộng Buenos Aires đã thể hiện một sự rượt đuổi không hồi kết, bướm đêm đuổi đèn, con sóc chạy theo hạt dẻ, em bé thích ti, chú chó thì rượt đuôi mình. Tại sao thế? Buenos Aires muốn thông báo rằng lần đầu tiên dịch vụ của họ mở cửa 24/24.

Hạng mục Product Design

  • Chiến dịch “Lucky Iron Fish Project”

Giải thưởng này gây tranh cãi năm nay khi Geometry Global, ban đầu được chọn thắng giải, buộc phải trao lại giải thưởng cho client của mình sau khi agency này bị cáo buộc lấy ý tưởng đã có trước đây, vốn bắt nguồn từ agency Arcade của Singapore. Nhằm giải quyết tình trạng thiếu sắt ở Campuchia, chiến dịch khuyến khích người dân nấu ăn với một con cá bằng sắt. Khối sắt hình cá vì cá vốn được xem là biểu tượng may mắn tại Campuchia.

Hạng mục Radio

  • Chiến dịch “SoundCloud – The Berlin Wall of Sound”
  • Agency: Grey Berlin

Để kỷ niệm 25 năm Bức tường Berlin sụp đổ, SoundCloud cùng agency Grey Berlin đã triển khai một chiến dịch tái hiện lại Bức tường bằng âm thanh. Chiến dịch còn được gọi “The most unbearable radio ad” (tạm dịch: mẫu quảng cáo radio khó chịu nhất).

Hạng mục “Food Good”

  • Chiến dịch “ALS Ice Bucket Challenge”

Chiến dịch ALS Ice Bucket Challenge (thách thức dội nước đá lên đầu) cho thấy sức mạnh ghê gớm của mạng xã hội. Mùa hè năm ngoái, Facebook chìm ngập trong hàng loạt các video của các bạn bè thách thức nhau dội xô đá lên đầu, nhằm tăng nhận thức và quyên góp cho cuộc chiến chống lại bệnh xơ cứng cột bên teo cơ hay còn gọi là bệnh Lou Gehrig (ALS). Một loạt những người nổi tiếng như Victoria Beckham, Kermit the Frog, Mark Zuckerberg, cựu tổng thống George W. Bush, và Tiger Woods cũng tham gia và chiến dịch này đã quyên được 100 triệu usd cho Hiệp hội ASL.

Hạng mục Titanium

  • Chiến dịch “Domino’s Pizza – Emoji ordering”
  • Agency: Crispin Porter & Bogusky

Vào tháng 5, Domino’s đã giới thiệu hệ thống “đặt hàng qua mạng” cho phép khách hàng có thể đặt pizza trực tiếp thông qua mạng xã hội Twitter. Ý tưởng này làm cho việc đặt pizza tiện lợi hơn, nhất là với đối tượng trẻ tuổi dành phần lớn thời gian cho công nghệ hơn là mua sắm thực sự.

Hạng mục Integrated

  • Chiến dịch “Jordan (Nike) – Re2pect”
  • Agency: Wieden & Kennedy New York

Chiến này này được thực hiện để tặng cho cầu thủ bóng chày Derek Jeter của đội Yankees khi ông giã từ sân bóng. Trong đoạn phim, chúng ta thấy những người hâm mộ nổi tiếng của ông (như Spike Lee, Jay Z, Tiger Woods cùng những người khác) vinh danh ông bằng cách bỏ mũ và hô vang tên ông. Đoạn phim đã trở thành một viral clip với hơn 9 triệu lượt xem trên YouTube.

Theo Business Insider