Đổi mới thương hiệu khi nào là thích hợp

Tốc độ nào là phù hợp cho một thương hiệu chuyển đổi trong một nền kinh tế cạnh tranh và hàng nhái tràn lan khắp nơi? Chúng ta thường nghe nói rằng sự thành công sẽ xuất phát từ việc đẩy mạnh cách tân đổi mới sản phẩm. Theo như đó, chúng ta cũng nghe về những công ty không thành công trong viêc đổi mới hoặc không thích ứng đủ nhanh với thị trường nên đã bị chôn vùi trong thất bại. Nhưng như vậy liệu có đúng hoàn toàn không?

ipad_mini_3_lehuutam.com

Liệu đổi mới chỉ là đơn thuần là một sự thay đổi hay còn phức tạp hơn thế? Các thương hiệu nên có giải pháp cho mình từ đâu – từ các chương trình phát triển sản phẩm, từ đối thủ cạnh tranh, từ truyền thông hay từ tự thân các yêu cầu của thương hiệu cho marketing?

Bạn tìm thấy sự đổi mới nhanh chóng ở đâu khi bạn đang gánh trên vai một công việc mới?

Có một học thuyết được đưa ra cho vấn đề này, đó là sự lan toả của việc đổi mới sản phẩm. Nó có liên quan đến 2 khía cạnh chính: quy trình thích ứng với cái mới sẽ kéo theo nhiều ý kiến phê bình và 5 yếu tố ảnh hưởng do tiến sĩ Everett Roger đưa ra, đó là:

Lợi thế tương quan – việc đổi mới sản phẩm tốt hơn trước như thế nào

Khả năng tương thích – việc đổi mới có thể áp dụng dễ dàng vào cuộc sống hằng ngày không

Độ phức tạp – việc tiến hành đổi mới là dễ hay khó

Độ cam kết – khách hàng thấy dễ dàng trong việc dùng thử một sản phẩm được đổi mới không trước khi cam kết sử dụng sản phẩm đó

Khả năng nhận diện – liệu sự đổi mới đó có thể được nhận diện và ghi nhận bởi người khác không

Tôi sẽ bổ sung thêm ba điểm cần cân nhắc sau vào danh sách đó là:

Tốc độ – sự đổi mới có được công bố thường xuyên không, đặc biệt là nếu vòng đời cải tiến sản phẩm có vẻ ngày càng tăng lên (điều này có thể làm khách hàng cảm thấy sự đổi mới là quá vội vàng).

Tính tương đồng – sự đổi mới này có gì tương đồng với những gì trước đó (và nếu khách hàng nhận thấy sự thay đổi chỉ là rất nhỏ thì họ có thể sẽ bỏ qua hẳn cả 1 thế hệ sản phẩm).

Sự phấn khích – sự đổi mới lôi kéo được bao nhiêu sự chú ý của công chúng về bản thân sản phẩm được đổi mới và so sánh với các sản phẩm khác cũng được đổi mới đồng thời sắp ra mắt.

Michael Schrage đã đưa ra giải pháp cho tốc độ đổi mới sản phẩm nên như thế nào trong một bài viết. Ông đưa ra một câu trả lời rất hay rằng “Vần đề là không phải ở việc các CEO sẵn sàng cho việc đổi mới các sản phẩm nhanh hay chậm, mà vấn đề là khách hàng của họ chuẩn bị đón nhận sự thay đổi đó như thế nào… Chỉ số thay đổi không chỉ được xác định bởi chất lượng hoặc giá/tính ưu việt của sản phẩm mà còn phải phụ thuộc vào việc đo lường được độ sẵn sàng của khách hàng khi tiếp nhận sản phẩm là như thế nào…. Độ ì của khách hàng lại chính là vấn đề đau đầu hơn việc năng lực đổi mới của bạn ra sao.”

“Đo lường độ sẵn sàng”. Nhân tố thành công của sự đổi mới không chỉ cần gia tăng theo thị trường mà còn phải tăng tốc cùng với thị trường. Trong khi người tiêu dùng có thể trở nên quen thuộc với việc chứng kiến những thay đổi của sản phẩm, điều đó không có nghĩa là họ sẽ bỏ tiền ra mua sản phẩm. Quan sát sự thay đổi không có nghĩa là họ sẽ mua sự thay đổi đó. Có những điều làm khách hàng đổi ý. Nhưng cũng có những điều khiến cho họ hồ nghi.

Và sự hồ nghi đó có thể xảy ra không chỉ ngay trước khi mua hàng mà còn sau đó. Lấy ví dụ về việc ra mắt iPad 3. Tại thời điểm ra mắt, mọi người có thể có những cảm nhận tốt về sản phẩm – nhưng với sự xuất hiện của iPad 4 quá nhanh sau đó, “việc đo lường độ sẵn sàng” cho iPad 3 và những ưu việt của iPad 3 trở thành tro bụi. Một khảo sát nhanh của Tolua đã chỉ ra rằng 45% chủ nhân của iPad thế hệ thứ 3 đã rất tức giận với Apple về việc cho ra mắt thế hệ thứ 4 chỉ 7 tháng sau khi thế hệ trước đó ra đời.

Việc không hài lòng đó chẳng ảnh hưởng gì đến doanh số của iPad 4, nhưng nó sẽ là một điều cảnh báo cho các thương hiệu quá vội vàng với thị trường. Những sản phẩm cải tiến cần phải được ra mắt một cách thận trọng.

Tôi xin được  tóm tắt lại như sau:

10 phản ứng của khách hàng trước việc sản phẩm đổi mới:

– Khách hàng sẽ mua thứ gì mà họ thấy khác lạ.

– Họ sẽ kiểm tra những sản phẩm được cho là tốt hơn những gì họ đang có.

– Họ sẽ cân nhắc các tính năng được cải tiến.

– Họ ngần ngại trước các tính năng được điều chỉnh.

– Họ bỏ qua nếu sản phẩm không có sự tiến bộ.

– Họ không chấp nhận các sai sót của sản phẩm.

– Họ sẽ chỉ trích và thất vọng.

– Và nếu bạn không cải tiến đủ nhanh, họ sẽ tìm kiếm một sản phẩm khác nhái lại (với giá rẻ hơn).

– Nhưng họ cũng sẽ bỏ qua những sai sót của bạn.

– Và rồi họ thậm chí còn quyết định quên luôn sản phẩm của bạn.

Theo BrandingStrategyInsider

Động lực khách hàng: 7 lý do khiến bạn mua hàng

John B. Watson, một chuyên gia trong lĩnh vực phát triển hành vi, cho rằng quảng cáo hiệu quả thường xoay quanh ba cảm xúc cơ bản: yêu mến, sợ hãi và giận dữ. Đây là một công thức hay nhưng liệu có chính xác không?

Vào thời điểm Watson đưa ra giả thuyết của mình, quảng cáo chú yếu được xây dựng trên cơ sở thuyết phục và tái diễn, và hoạt động trên các kênh lập trình trên định dạng lập trình trong phạm vi những kỳ vọng xã hội được đặt ra. Nhưng các quy tắc xã hội cũng có lúc thả lỏng và marketing đã phát triển lên các hình thức thể hiện mới và các tiêu chí cân nhắc của chúng ta mở rộng hơn. Nếu vậy, các tiêu chí bây giờ là gì?

Phụ thuộc vào mức độ bạn áp dụng các khái niệm của Watson, chúng vẫn có hiệu quả nhất định.

Chúng ta vẫn mua hàng bởi lý do yêu mến – trung thành, thói quen, uy tín và thái độ đều là những động lực khiến chúng ta hình thành nên mối gắn kết với thương hiệu. Chúng ta mua thứ mà chúng ta cảm thấy tốt, thứ mà chúng ta biết, thứ mà chúng ta chấp nhận, thứ mà chúng ta cảm thấy mình xứng đáng, thứ mà những thương hiệu ta gắn kết nói về chúng ta và khi thương hiệu thể hiện thông qua tuyên ngôn, đức tin hay hành động đồng quan điểm với chúng ta.

Chúng ta mua hàng bởi lý do hứng khởi chung – là người tiêu dùng, chúng ta say mê những thứ thời thượng

Chúng ta mua hàng bởi lý do hứng khởi chung – là người tiêu dùng, chúng ta say mê những thứ thời thượng

Chúng ta vẫn mua hàng bởi lý do sợ hãi – rủi ro, nguy cơ và phòng tránh đều khiến chúng ta tìm kiếm những thương hiệu mà ta tin rằng có thể giúp ta trong một hế giới đầy hiểm nguy và bất trắc này. Chúng ta cũng không muốn bỏ lỡ – một món hời, một khoản chiết khấu, một cơ hội được trao hay một xu thế. Ngày càng nhiều người thực sự sợ bị bỏ ra ngoài vòng quay đó.

Chúng ta vẫn mua hàng bởi lý do giận dữ – khóc oà, nổi loạn, phán xét, cầu nguyện cho thay đổi và quá giới hạn kiên nhẫn đều đẩy chúng ta tới các thương hiệu khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau bởi chúng ta từ chối chấp nhập một thứ gì đó hoặc chúng ta muốn phá vỡ hiện trạng bây giờ.

Sự phát triển của internet, đổi mới văn hoá và cộng đồng xã hội đã kéo theo những động lực mới và quy mô toàn cầu mà Watson có lẽ chưa bao giờ tưởng tượng nổi. Ngày nay, chúng ta không chỉ hành động vì bản thân. Chúng ta hành động bên cạnh, và với sự nhận thức mạnh mẽ, những người khác.

Giờ đây, chúng ta mua hàng bởi lý do hứng khởi chung – là người tiêu dùng, chúng ta say mê những thứ thời thượng. Chúng ta đang sống trong thời đại “online mọi lúc mọi nơi” với những bước đi nhanh chóng – nơi mà thay đổi và cập nhật là tiêu chuẩn, nơi mà mọi người đều muốn cảm giác họ có những thứ mới nhất và tốt nhất.

Chúng ta mua thành công bởi chúng ta muốn được liên tưởng tới thành công – và càng ngày thành công không chỉ là cảm nhận cá nhân (yêu mến), mà nó là một ý tưởng thời thượng kiểu đám đông mang lại cho thương hiệu quyền năng và sự hiện diện, đồng thời khiến khách hàng trở nên hào hứng (tiếp thêm động lực khiến chúng ta mua hàng). Hoạt động mua sắm giờ đây chịu tác động đánh giá của hàng triệu người và mọi thứ diễn ra chỉ trong phút chốc. Chưa bao giờ chuyện thành công hay biến mất lại diễn ra nhanh đến vậy.

Chúng ta mua hàng bởi lý do kết nối – chúng ta hiện diện ở nhiều diễn đàn với nhiều phương thức suy nghĩ mới mẻ, bối cảnh mới mẻ để cân nhắc và tinh chỉnh các ý tưởng, phỏng đoán và sắc thái. Cơ hội để trao đổi và tìm tòi cách thức mới trở nên dễ dàng và đa dạng hơn bao giờ hết. Chúng ta mua những thương hiệu nổi bật trong các cuộc đối thoại hay tranh luận tạo cảm hứng cho ta, và chúng ta lựa chọn chúng vì những điều ta nghe được và học được từ chúng.

Và chúng ta cũng được tạo động lực bởi sự phóng khoáng. Chúng ta cân nhắc những thương hiệu vì hành động mà họ thực hiện để cải thiện thế giới này và vì những điều họ nói và chuẩn bị làm cho những người xung quanh. Cuộc tranh luận tiếp diễn bởi cho dù hành động theo cách này có thực sự tăng lợi nhuận của công ty hay không thì vẫn có hàng loạt ví dụ chứng minh rằng chúng ta quay lưng với những công ty có hành vi bị xã hội chỉ trích hay hành xử một cách tiêu cực.

Theo quan điểm cá nhân, việc tìm cách chiếm thế thượng phong một cuộc đối thoại xoay quanh một hoặc một vài trong số bảy động lực này nên là tâm điểm trong tư duy của mỗi người làm marketing. Những thứ nằm ngoài vòng quay đó sẽ chỉ trở thành hình nền quảng cáo.

Yêu mến, sợ hãi và giận dữ sẽ ngoảnh mặt với những thứ như thế.

Theo BrandingStrategyInsider

Tiến thoái lưỡng nan vs. Thách thức Thương hiệu

Thách thức là vấn đề mà ai cũng nhận ra: những yêu cầu không thể thỏa mãn sẽ khiến bạn phải dồn toàn bộ tâm sức mà vẫn không thể giải quyết được, ví dụ như mong muốn của khách hàng.

Thương hiệu phải làm việc một cách điên cuồng để có thể đáp ứng được nguyện vọng của khách hàng, và sau đó, bởi vì đối thủ vượt trội hơn, hoặc khách hàng đã bắt đầu quen dần với những gì thương hiệu đó cung cấp, hoặc lĩnh vực đó có những đột phá mới, những thương hiệu này một lần nữa lại bị tụt lại phía sau, vì thế họ lại dồn một lượng công sức khổng lồ vào để đuổi kịp và tiến lên phía trước. Họ giữ được vị trí của mình một thời gian và sau đó lại bị tụt dốc. Vì thế họ tổ chức một nguồn nhân lực dồi dào để giành lại sự kiểm soát. Và cuộc đua cứ thế tiếp tục.

Thách thức diễn ra không ngừng. Chúng thật chán ngán, khó khăn, và tốn thời gian…nhưng cuối cùng, chúng thực tế đã trở thành một phần của kinh doanh. Và kì lạ thay, chúng khiến các cuộc đua trở nên cân bằng vì chúng là vấn đề mà doanh nghiệp nào cũng gặp phải. Tình trạng lúc thì ở vị trí thứ nhất, và một thời gian sau lại phải chạy đua để đuổi kịp đối thủ xảy ra hoặc có khả năng xảy ra với tất cả mọi doanh nghiệp.

Tuy nhiên tình huống tiến thoái lưỡng nan lại nguy hiểm hơn nhiều. Nó không chỉ đòi hỏi nỗ lực đuổi kịp đối thủ, mà còn là tình huống một mất một còn. Nếu không làm thì doanh nghiệp của bạn sẽ bị phá sản. Đây là cách làm mới mà không ai được chuẩn bị trước. Nó giống như việc mua cổ phần chi phối tạo nên cuộc cách mạng với danh sách ưu tiên. Hay như việc các scandal làm lung lay danh tiếng của mọi người…

Nó nguy hiểm bởi vì nó không diễn ra liên tục. Và nguyên nhân dẫn đến hoặc có thể dẫn đến tình huống này lại là lợi thế cho một người khác – chính sự không theo quy luật  của những tình huống tiến thoái lưỡng nan đã khiến bạn gặp khó khăn khi rơi vào tình huống đó. Bạn không thể đuổi kịp một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Bạn cũng không thể cải thiện, sửa chữa hay điều chỉnh để thoát khỏi tình huống đó. Thay vào đó, bạn cần phải lật ngửa ván bài, thay đổi chiến thuật và thiết lập lại hệ thống. Trong suốt thời gian đó, bạn đang làm mất đi tiền bạc. Mọi người muốn biết tại sao bạn lại mất nhiều thời gian đến vậy.

Vấn đề của những nhà lãnh đạo là do có nhiều việc phải giải quyết nên họ nhìn mọi thứ xảy đến như một phần của danh sách những công việc phải làm. Ra-đa dò sóng của họ không được khởi động để phân biệt sự khác nhau giữa những thách thức đang xảy ra và những tình thế lưỡng nan mới xuất hiện bởi họ đang đánh giá mọi thứ như “nhiệm vụ” chứ không nhìn bằng con mắt của những bên liên quan, những nhà đầu tư, khách hàng, và nhân viên. Một vấn đề có vẻ chỉ như một vấn đề thôi. Đương nhiên là vậy, nhưng cho đến khi mọi chuyện trở nên quá muộn và đột nhiên những nhà quản lý phát hiện ra họ đang chìm sâu vào một hiện thực bị bóp méo và phải phân tích tình huống, sắp xếp và ưu tiên giải quyết như thể việc kinh doanh của họ đặt cả vào đó vậy – mà đương nhiên là như vậy thật.

Bất kì doanh nghiệp nào nói với bạn rằng họ sẵn sàng cho mọi thách thức của thị trường thì họ đều đang nói dối. Làm sao họ có thể sẵn sàng được? Điều họ muốn nói nghĩa là họ nhận thức được về điều họ biết và họ có kế hoạch cho một kịch bản mà họ có thể tiên đoán. Đó là một nấc thang mới – và hầu hết trong các trường hợp, các nhà quản lý có một danh sách các cấp độ phản ứng được sắp xếp khác nhau theo một cách nghệ thuật.

Sau đây là một quy tắc đúc kết từ kinh nghiệm của tôi. Nếu một thứ xảy ra hay phát sinh và bạn biết cách phản ứng, đó là thách thức. Nếu ai đó làm gì mà bạn không thể phản ứng, đó là tình thế tiến thoái lưỡng nan. Sự cám dỗ đương nhiên nằm ở chỗ cần phản ứng lại tình thế tiến thoái lưỡng nan đó, và phản ứng theo những gì bạn biết. Ngành công nghiệp âm nhạc đã phản ứng lại với tình trạng mọi người download nhạc bằng cách đặt ra vấn đề đáng lo ngại về địa chỉ IP. Ngành công nghiệp phim ảnh cũng làm điều tương tự.

Điều mà các thương hiệu chưa làm được là lùi lại 1 bước vào khảo sát xem những điều này đã làm rung chuyển thế giới như thế nào, và điều đó có nghĩa gì.

Những thách thức khiến mọi người làm những điều tương tự nhau. Họ đều cố gắng cải  thiện tình trạng, vì thế kì lạ thay, mặc dù họ đang làm sao lãng và đối mặt với vấn đề, họ thật ra đang củng cố lại cách mọi thứ hoạt động. Các tình thế tiến thoái lưỡng nan thì khó khăn hơn. Chúng là về những thứ tiếp theo vì vậy chúng đòi hỏi những kẻ tồn tại được phải làm điều khác hẳn với những người khác. Chính tại thời điểm mà các thương hiệu cảm thấy họ bắt buộc phải làm ít nhất 1 điều gì đó họ biết.

Theo BrandingStrategyInsider

P&G và chiến dịch xây dựng sự trung thành đối với Nhãn hàng Always

Lại có thêm một video về nữ quyền từ các nhãn hiệu ngành hàng đóng gói nữa nhằm nâng cao lòng tự trọng của phái nữ.

Always – nhãn hiệu băng vệ sinh hàng đầu của P&G, đã tung ra chiến dịch “Like a Girl”, tạm dịch “Như Con gái vậy” với một video được thực hiện bởi Lauren Greenfield – đạo diễn đạt giải thưởng Liên hoan phim Sundance trong bộ phim “The Queen of Versailles” , đã đưa ra vấn đề về các thời kỳ của những lời chế nhạo trên sân chơi dành cho những người chạy, ném bóng hay đánh nhau “như con gái”. Nhãn hiệu này đưa ra câu hỏi: “Từ khi nào việc làm một thứ gì đó “như con cái” trở thành một lời chế giễu?

Đây là điều đầu tiên mà Amanda Hill, Giám đốc Nhãn hiệu Always, hi vọng sẽ được giải quyết trong một chiến dịch lâu dài để thay đổi ý nghĩa của cụm từ “như con gái” cũng như xây dựng sự trung thành đối với nhãn hiệu của mình.

Trong đoạn video, những người trưởng thành và một bé trai được yêu cầu thể hiện những động tác chạy, đánh nhau hay ném bóng như con gái. Họ thực hiện những động tác này một cách yếu đuối và rập khuôn. Sau đó những bé gái ở độ tuổi chưa dậy thì được yêu cầu thực hiện những động tác tương tự. Những bé gái này thực hiện mỗi động tác được yêu cầu rất tự tin và với một nỗ lực thực sự. Thông điệp ở đây là: Sự tự tin của người con gái giảm xuống trong độ tuổi dậy thì, và “Always muốn thay đổi điều đó”.

always-like-a-girl-lehuutam.com2

Đoạn video dựa vào những yếu tố đã trở thành cốt lõi của những đoạn video có sức lan truyền rộng rãi đối với ngành hàng đóng gói hơn một thế kỷ qua.

P&G cạnh tranh với Dove của Unilever, nhãn hiệu đang thực hiện sứ mệnh cải thiện sự tự tin của phụ nữ về ngoại hình của họ trong 10 năm qua với chiến dịch “Real Beauty – Vẻ đẹp thực sự”. Nhãn hàng Pantene của P&G đã tham gia vào lĩnh vực này với một video được thực hiện từ Công ty BBDO tại Philippines. Video này nhận được sự ủng hộ từ Giám đốc điều hành của Facebook – Sheryl Sandberg, đã lan rộng toàn cầu và thể hiện cách nhìn nhận khác biệt của xã hội về hành vi ứng xử tương tự của nam và nữ giới. Pantene tiếp nối điều đó bằng một video thực hiện bởi Công ty Grey tại New York, nhìn nhận cách phụ nữ thường xuyên xin lỗi một cách không cần thiết và đưa ra lời khuyên để họ dừng lại.

Bà Hill cho biết, nỗ lực của Always không giống với các nhãn hiệu khác, một phần bởi nhãn hiệu này tập trung cụ thể vào giai đoạn của độ tuổi dậy thì, mô tả điều đó như một quá trình phát triển tự nhiên trong những nỗ lực giáo dục về thời kỳ dậy thì của nhãn hiệu đã được thành lập 30 năm, tuy nhiên, ngày nay thương hiệu này đã phát triển nhiều hơn là sự giáo dục về thể chất đối với những cô gái lần đầu tiên dậy thì.

Nghiên cứu liên quan chỉ ra rằng một nửa các cô gái cảm thấy sự tự tin của mình giảm xuống sau khi dậy thì. “Chúng tôi cảm thấy rằng mình nhất định phải làm điều gì đó để thay đổi”, Hill cho biết. “Mục đích thực sự của chiến dịch là để thay đổi cụm từ “như con gái” từ một lời chế giễu trở thành một lời khen và củng cố sự tự tin. Chúng tôi hi vọng rằng mình có thể thực sự bắt đầu tạo ra một sự thay đổi”.

Cùng với đó, dĩ nhiên, mục tiêu của chiến dịch này cũng là để xây dựng sự trung thành đối với nhãn hiệu, điều tạo nên một sự khác biệt rõ rệt trong một ngành hàng có tỷ lệ trung thành cao và phụ nữ thường sử dụng nhãn hiệu quen thuộc từ khi còn là thiếu nữ.

“Khi chúng tôi chia sẻ ý tưởng này với các cô gái trẻ, 4/5 họ khẳng định “Đúng vậy, điều này có thể tạo ra cảm giác rằng Always hoàn toàn có thể liên kết với sự thay đổi nhận thức về cụm từ “như con gái”.

Bà Hill cho biết, thành công vang dội gần đây của Hello Flo, một công ty khởi nghiệp thương mại điện tử bán các sản phẩm chăm sóc cho phụ nữ của P&G với gói sản phẩm cho những cô gái lần đầu tiên dậy thì, cũng là một dấu hiệu cho thấy ngành hàng này có nhiều điều đáng quan tâm.
Theo Advertising Age

Bespoke – thương hiệu đồng hồ xa xỉ và cá nhân hoá

Lịch sử bespoke

Nếu là một người đam mê đồng hồ, chắc chắn bạn không còn lạ lẫm với thuật ngữ bespoke. Còn nếu đây là lần đầu bạn biết đến khái niệm thú vị này, thì có cả một thế giới của những huyền thoại để bạn khám phá về bespoke – thương hiệu đồng hồ xa xỉ và cá nhân hoá.

Theo bạn, điểm chung giữa chiếc túi Birkin mà Jean Louis Dumas đã thực hiện cho nữ danh ca Jane Birkin với chiếc đồng hồ mang tên Marie Antoinette mà nhãn hiệu Breguet đã mất tới 40 năm thực hiện là gì? Câu trả lời không khó, chúng đều là những kiệt tác được tạo ra theo đơn đặt hàng riêng. Birkin trước khi trở thành chiếc túi giúp Hermès thu lợi hàng tỷ đô và là chiếc túi gắn với những cái tên quyền lực bậc nhất từng là đơn đặt hàng của danh ca Birkin với ông chủ Hermès. Yêu cầu của Birkin chỉ là một chiếc túi đơn giản, thanh lịch nhưng đựng được cả thế giới của nữ danh ca lừng danh này. Còn chiếc đồng hồ Marie Antoinette được người tình của bà hoàng sành điệu bậc nhất nước Pháp đặt riêng Breguet để tặng bà, với yêu cầu nó độc bản với những chức năng mà hàng thế kỉ sau vẫn cứ thời thượng.

chiec-dong-ho-khi-vang-lehuutam

Thực ra, những món hàng đặt riêng không phải là chuyện mới mẻ gì trong làng xa xỉ. Từ năm 1928, hoàng tử Ấn Độ Bhupinder Sighm đã mang cả hòm đá quý đến nhà Boucheron và đặt nhãn hiệu này tạo nên những món đồ tượng trưng cho quyền lực, tước bậc và địa vị. Nhưng bespoke thực sự trở thành một thuật ngữ từ cuối thế kỉ thứ 19. Lịch sử của nó gắn liền với con phố thời trang Savile Row – một con phố may mặc cho nhà giàu nổi tiếng bậc nhất ở Anh. Ngay từ thuở ban đầu, những nghệ nhân may đo bậc thầy người Anh đã gắn cho nó một ý nghĩa cũng rất độc bản “mỗi súc vải một khách hàng”. Ở đây, súc vải là những loại vải vô cùng quý hiếm, thậm chí có một không hai. Mỗi khách hàng khi đặt may sẽ được một người thợ bậc thầy thực hiện không dưới 35 phép đo. Vị khách đó cũng có thể đưa ra hơn 400.000 thay đổi trên trang phục. Tất nhiên, việc may đo sẽ được các nghệ nhân tiến hành may thủ công bằng tay. Bởi thế mà mỗi bộ trang phục bespoke sẽ khác biệt hoàn toàn và không bao giờ đụng hàng.

Thương hiệu của nhà giàu và sự tinh xảo

Trong một kỷ nguyên nơi mà bạn có thể cá nhân hoá mọi thứ từ bộ suit tới những chiếc iPhone hay một chai nước hoa, khái niệm “cá nhân hoá” đang trở nên phổ thông hoá – thậm chí là tầm thường hoá. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đúng như vậy. Lấy ví dụ về chiếc đồng hồ của một yếu nhân người Nga có tên là Vladimir đặt hãng Vacheron Constantin thực hiện. Đồng hồ gồm 891 chi tiết, 17 cơ chế phức tạp, mặt số bằng vàng trắng được chạm khắc hoạ tiết Guilloche.

chiec-dong-ho-vladimir-lehuutam.com

Vỏ đồng hồ bằng vàng hồng chạm nổi hình 12 Con Giáp của phương Đông. Được biết để hoàn thiện chiếc đồng hồ này cần tới 04 năm. Mẫu đồng hồ là bản nâng cấp của mẫu đồng hồ Tour de l’ile (có giá $1,6 triệu) được hãng đặc biệt giới thiệu nhân kỷ niệm 250 năm thành lập thương hiệu. Tour de l’ile từng là mẫu đồng hồ phức tạp nhất trên thế giới với 16 cơ chế nhưng vị yếu nhân người Nga nọ muốn đồng hồ của mình có cơ chế thứ 17. Và đây đã là một thách thức không nhỏ – với hãng.

Cá nhân hoá chiếc đồng hồ đeo tay đang là thú chơi mới của nhà giàu. Với thú chơi này thay đổi mặt số, lựa chọn chất liệu và máy chỉ mới là bước khởi đầu cho một cuộc chơi lớn. Đỉnh cao của việc này là sở hữu một chiếc đồng hồ hoàn toàn độc đáo và khác biệt, được thực hiện với những đặc điểm và quan điểm mỹ thuật riêng của chủ nhân của chiếc đồng hồ. Ở Việt Nam hiện cũng đã có một số người có những mẫuđồng hồ hàng thửa. Một doanh nhân sở hữu một chiếc đồng hồ Bovet có 12 cọc số tương ứng với 12 chữ cái tên mình, trung tâm của mặt số là hình một con ngựa màu đen. Một giám đốc tỉnh Thanh Hoá sở hữu một chiếc đồng hồ với mặt số hình mặt của một con mèo (ứng với Con Giáp của vị giám đốc) có một vết bớt trên mặt.

nghe-thuat-cham-noi-dong-ho-lehuutam

Để sở hữu một chiếc đồng hồ được cá nhân hoá tới từng chi tiết việc cần có một khả năng tài chính đủ mạnh chỉ là sự bắt đầu cho một cuộc chơi lớn. Nếu muốn sở hữu một chiếc đồng hồ cá nhân hoá của những hãng như Vacheron Constantin hoặc Patek Philippe, một người cần phải là “một ai đó” và có mối quan hệ đủ lớn với hãng.Ngoài ra, trong một số trường hợp, bạn còn cần phải đủ kiên nhẫn để chờ đợi. Một chiếc đồng hồ của Philippe Dufour có thể khiến những nhà sưu tập điềm đạm nhất cũng phải mất bình tĩnh khi thời gian chờ đợi lên tới 12 năm.

Và không phải lúc nào những mong muốn cũng được thực hiện chính xác. Bạn thích phong cách cao bồi, bạn nghĩ rằng bạn có thể tuỳ ý sai khiến những người thợ chế tác Vacheron hoặc Patek đặt một chiếc mũ cao bồi lên mặt số với khả năng tài chính của mình? Không có đâu, hãng có thể cân nhắc để giúp bạn đặt một ngôi sao kiểu của cảnh sát trưởng ở đâu đó trên đồng hồ nhưng không phải là một chiếc mũ cao bồi.

Theo Regal Insider Magazine